[Phỏng vấn đặc biệt] Hỏi Viện trưởng Cho Yong-min của Viện Khoa học Chăn nuôi Quốc gia về chăn nuôi tương lai
“Đảm bảo tính bền vững của ngành chăn nuôi là ưu tiên hàng đầu… tập trung toàn bộ năng lực vào nghiên cứu ứng dụng thực tiễn mà người làm tại hiện trường có thể cảm nhận” Nâng cao công nghệ chăn nuôi chính xác dựa trên AI và dữ liệu cho toàn bộ các loài vật nuôi gồm bò Hanwoo, lợn, gia cầm và bò sữa Hiện thực hóa trung hòa carbon bằng gói giải pháp thức ăn giảm methane, năng lượng hóa phân gia súc và giảm mùi
Thương mại hóa phụ gia thức ăn giúp giảm tối đa 34% lượng phát thải methane, phát triển và phổ cập máy vắt sữa robot có giá chưa đến một nửa so với hàng nhập ngoại. Đây là những dự án nghiên cứu tiêu biểu trong số các hoạt động R&D mà hiện nay Viện Khoa học Chăn nuôi Quốc gia thuộc Cục Phát triển Nông thôn đang thúc đẩy. Nói cách khác, viện đang tập trung phát triển và phổ cập công nghệ chăn nuôi chính xác dựa trên AI và dữ liệu cùng công nghệ carbon thấp nhằm nâng cao tính bền vững của ngành chăn nuôi đang đối mặt với khủng hoảng do chi phí sản xuất tăng, thiếu nhân lực, dịch bệnh vật nuôi, biến đổi khí hậu và gánh nặng môi trường. Vì vậy, báo chúng tôi đã gặp Viện trưởng Cho Yong-min của Viện Khoa học Chăn nuôi Quốc gia để trao đổi về lộ trình chăn nuôi mà ông hình dung cũng như nghiên cứu ứng dụng nhằm tăng thu nhập cho nông hộ.
Các điều kiện trong và ngoài nước xung quanh ngành chăn nuôi đang thay đổi nhanh chóng. Theo ông, những vấn đề lớn của ngành chăn nuôi trong nước hiện nay là gì, và Viện Khoa học Chăn nuôi Quốc gia đang tập trung thúc đẩy theo hướng nào để giải quyết chúng?
“Khủng hoảng lớn nhất mà ngành chăn nuôi đang đối mặt hiện nay không phải chỉ là một vấn đề đơn lẻ, mà là việc chi phí sản xuất tăng, thiếu nhân lực, biến đổi khí hậu, dịch bệnh vật nuôi và gánh nặng môi trường đang chồng lấn cùng lúc. Đặc biệt, mức độ phụ thuộc cao vào nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi và biến động giá quốc tế đang làm hoạt động quản lý trang trại của nông hộ trở nên bất ổn, trong khi già hóa dân số và thiếu lao động cũng đe dọa tính bền vững của ngành chăn nuôi. Thêm vào đó, gánh nặng mà nông hộ phải gánh chịu ngày càng tăng khi nguy cơ nắng nóng cực đoan, dịch bệnh vật nuôi, cùng yêu cầu xã hội về giảm mùi chăn nuôi và cắt giảm khí nhà kính đều gia tăng.
Tuy nhiên, những khủng hoảng này cũng có thể trở thành cơ hội để thay đổi thể chất của ngành chăn nuôi. Bởi các công nghệ chăn nuôi thông minh sử dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu để giảm lao động và nâng cao năng suất, công nghệ cắt giảm chi phí thức ăn bằng cách tận dụng cỏ thức ăn nội địa và phụ phẩm nông thực phẩm, cũng như công nghệ chuyển gánh nặng môi trường thành giá trị công nghiệp mới thông qua giảm methane và tài nguyên hóa phân gia súc đang phát triển nhanh chóng.
Viện Khoa học Chăn nuôi Quốc gia sẽ tập trung năng lực để hoàn thiện các thành quả nghiên cứu thành công nghệ mà nông hộ và doanh nghiệp thực sự có thể sử dụng, thay vì để chúng chỉ dừng lại trong phòng thí nghiệm, đồng thời nhanh chóng phổ biến thông qua kiểm chứng thực địa và các dự án thí điểm.”
Trí tuệ nhân tạo và công nghệ dữ liệu đang được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của ngành chăn nuôi. Tại viện, những công nghệ AI nào đang được nghiên cứu để quản lý sức khỏe và hành vi vật nuôi, điều khiển môi trường chuồng trại, cho ăn và tự động hóa công việc, và ông kỳ vọng hiện trường chăn nuôi sẽ thay đổi ra sao nhờ đó?
“Chúng tôi đang phát triển theo từng loài vật nuôi các công nghệ sử dụng trí tuệ nhân tạo và thông tin thu thập từ nhiều loại thiết bị cảm biến để nắm bắt chính xác tình trạng vật nuôi, đồng thời tự động hóa quản lý nuôi dưỡng, sinh sản và môi trường. Cốt lõi là chuyển đổi từ phương thức sản xuất và chăn nuôi dựa trên kinh nghiệm của chủ trang trại sang nông nghiệp khoa học dựa trên dự báo và ra quyết định căn cứ dữ liệu. Ví dụ, để cân bò Hanwoo cần đầu tư không ít thời gian và sức lao động, nhưng nếu đo thể hình và trọng lượng qua hình ảnh thì sẽ hiệu quả trong việc tiết kiệm lao động, thời gian và nâng cao an toàn.
Vì vậy, trong lĩnh vực bò Hanwoo, chúng tôi đang phát triển thiết bị tự động đo các thông tin chính như trọng lượng và thể hình bằng hình ảnh. Năm nay sẽ phát triển nguyên mẫu phổ cập, từ năm 2027 sẽ áp dụng thí điểm cho các hộ chăn nuôi giống rồi mở rộng đến các nông hộ nói chung. Trong lĩnh vực bò sữa, chúng tôi đang mở rộng phổ cập trong nước và xuất khẩu máy vắt sữa robot nội địa sử dụng AI để nhận diện vị trí núm vú và thực hiện vắt sữa. Chức năng phân tích thông tin vắt sữa và mức độ hoạt động để phát hiện sớm động dục hoặc bất thường sức khỏe cũng đang được nâng cấp.
Đối với vật nuôi, việc giảm số ngày trống là rất quan trọng. Vì vậy, trong lĩnh vực lợn, chúng tôi đã phát triển công nghệ dùng AI phân tích hình ảnh siêu âm để tự động xác định có mang thai hay không. Độ chính xác chẩn đoán thai trong khoảng 18∼21 ngày sau thụ tinh nhân tạo đạt khoảng 98%, và năm nay đang triển khai dự án thí điểm tại 45 nông hộ. Ngoài ra, chúng tôi cũng đang phát triển công nghệ chẩn đoán thể hình lợn nái bằng hình ảnh để tự động điều chỉnh lượng thức ăn cho từng cá thể và phát hiện sớm cá thể bất thường trong đàn; trong tương lai sẽ mở rộng nghiên cứu sang phát hiện động dục và dự đoán số con trong một lứa.
Trong lĩnh vực gia cầm, công nghệ tự động phân loại gà không đẻ hoặc có bất thường trong trạng thái đẻ đang được kiểm chứng tại nông hộ. Với gà thịt, việc đo trọng lượng từng cá thể vốn vất vả và độ chính xác cũng thấp. Vì vậy, chúng tôi đang áp dụng công nghệ quản lý môi trường tích hợp liên kết quản lý trọng lượng, thức ăn với thông gió và quản lý nền chuồng. Trong tương lai, công nghệ này sẽ được phát triển thành mô hình thông minh. Năm nay, chúng tôi sẽ mở rộng kiểm chứng thực địa và phổ cập các công nghệ đã phát triển, và từ năm 2027 sẽ phân tích hiệu quả cải thiện quản lý nông hộ để chính thức đẩy mạnh các dự án thí điểm và thương mại hóa.”
Trung hòa carbon và cắt giảm chi phí thức ăn là những nhiệm vụ quan trọng của ngành chăn nuôi. Xin ông giải thích những thành quả nghiên cứu chính về công nghệ nuôi dưỡng thân thiện môi trường như thức ăn ít methane, ít protein và định hướng phổ biến tại hiện trường.
“Trung hòa carbon và cắt giảm chi phí thức ăn là những bài toán cần giải quyết cùng nhau. Viện Khoa học Chăn nuôi đang tập trung phát triển nguyên liệu thức ăn cho bò Hanwoo giúp giảm phát thải methane và công nghệ thức ăn ít protein cho lợn giúp giảm phát thải nitơ mà vẫn duy trì năng suất.
Trong lĩnh vực bò Hanwoo, năm 2025 chúng tôi đã phát triển nguyên liệu thức ăn sử dụng thiamine diphosphate và xác nhận hiệu quả giảm khoảng 18% lượng phát thải methane, đồng thời hoàn tất đăng ký thức ăn bổ sung vào nửa đầu năm 2026. Tiếp đó, nguyên liệu phối trộn thiamine diphosphate và dầu thực vật cho thấy hiệu quả giảm methane từ 28~34% trong thử nghiệm cho bò Hanwoo ăn. Công nghệ phát triển phụ gia liên quan đã được chuyển giao cho hai doanh nghiệp vào tháng 5 năm 2026, và hiện đang thúc đẩy hỗ trợ công nghiệp hóa để kiểm chứng hiệu quả giảm methane.
Trong lĩnh vực lợn, chúng tôi đã xác nhận rằng ngay cả khi giảm protein thô trong thức ăn xuống 1 điểm phần trăm, nếu bổ sung axit amin thiết yếu ở mức thích hợp thì năng suất không bị suy giảm. Hiện nay, để làm rõ ảnh hưởng dinh dưỡng giữa các axit amin giới hạn, chúng tôi đang thiết lập mức phối trộn axit amin và tiến hành nghiên cứu về năng suất cũng như thay đổi sinh lý chuyển hóa.”
Những công nghệ chủ chốt mà Viện Khoa học Chăn nuôi đang phát triển để xử lý hiệu quả phân gia súc và tuần hoàn tài nguyên là gì, và định hướng thúc đẩy trong thời gian tới ra sao?
“Với vấn đề khoảng 50 triệu tấn phân gia súc phát sinh mỗi năm, điều quan trọng là đa dạng hóa phương thức xử lý. Vì vậy, bên cạnh việc sử dụng phân ủ và phân lỏng hiện có, chúng tôi đang phát triển công nghệ tận dụng phân gia súc làm nhiên liệu rắn, than sinh học và các vật liệu năng lượng - công nghiệp khác.
Trước hết, thông qua nhiên liệu hóa rắn, trong tương lai có thể tận dụng cho các giao dịch phát thải carbon. Vì vậy, chúng tôi đã thiết lập thời gian lưu trữ phân phù hợp để sử dụng làm nhiên liệu, đồng thời phát triển công nghệ trộn phụ phẩm nông nghiệp để tăng nhiệt trị hoặc giảm mùi. Trên cơ sở đó, năm 2024 chúng tôi đã hỗ trợ đốt thử nghiệm quy mô 425 tấn tại Korea Southern Power và năm 2025 quy mô 210 tấn tại Korea East-West Power, qua đó xác nhận khả năng sử dụng làm nhiên liệu phát điện.
Trong lĩnh vực than sinh học, nghiên cứu sử dụng vật liệu tạo ra bằng cách nhiệt phân phân gia súc để loại bỏ chất ô nhiễm như kim loại nặng và thuốc nhuộm đang được tiến hành từ năm 2025 đến 2027. Từ năm nay, thông qua dự án ‘Phát triển công nghệ hội tụ sinh học trung hòa carbon sử dụng tài nguyên chăn nuôi’, chúng tôi đang thúc đẩy 6 nhiệm vụ gồm tận dụng tro đốt nhiên liệu rắn, sản xuất dầu sinh học và carbon hóa thủy nhiệt.”
Giảm mùi chăn nuôi là điều quan trọng để chung sống hài hòa với cộng đồng địa phương và cải thiện hình ảnh ngành chăn nuôi. Tình hình các công nghệ giảm mùi mà viện đang phát triển, phổ cập và kế hoạch phổ biến hệ thống giám sát mùi dựa trên Internet vạn vật (IoT) hiện ra sao?
“Khi các trại lợn chuyển từ kiểu mở sang kiểu kín, việc lọc tại cửa xả và tuần hoàn liên tục phân trở nên quan trọng hơn. Nói cách khác, để quản lý hiệu quả cần áp dụng đồng thời các công nghệ giảm phát sinh mùi, ngăn mùi lan ra ngoài chuồng và liên tục kiểm tra nồng độ mùi. Viện Khoa học Chăn nuôi đang gói các công nghệ này thành một bộ để phổ cập cho nông hộ. Bên trong chuồng, chúng tôi áp dụng các chất ức chế quá trình phát sinh amoniac từ phân và nắp nổi che phủ bề mặt bể chứa phân lỏng. Bên ngoài chuồng, lắp đặt tháp khử mùi để giảm việc mùi lan ra xung quanh. Đồng thời, kết nối thiết bị đo dựa trên IoT để có thể kiểm tra theo thời gian thực sự thay đổi nồng độ mùi.
Công nghệ kết hợp thiết bị đo mùi và tháp khử mùi đã được phổ cập cho 12 nông hộ vào năm 2025, và đang mở rộng lên 26 nông hộ trong năm 2026. Công nghệ kết hợp thiết bị đo mùi và nắp nổi cũng dự kiến sẽ được kiểm chứng thực địa trong năm 2026 rồi phổ cập thí điểm cho 16 nông hộ vào năm 2027. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục áp dụng theo dạng gói công nghệ phù hợp với cấu trúc trang trại và phương thức xử lý phân.”
Gần đây, Viện Khoa học Chăn nuôi cũng đang nỗ lực mở rộng ra nước ngoài công nghệ chăn nuôi bò sữa kiểu Hàn Quốc. Xin ông giới thiệu thế mạnh của công nghệ bò sữa của chúng ta và định hướng mở rộng hợp tác, thâm nhập thị trường nước ngoài.
“Ngành bò sữa đang mang trong mình bài toán cơ cấu là già hóa và thiếu lao động. Thời gian lao động hằng năm trên mỗi nông hộ là 3.661 giờ, gấp ba lần các loài vật nuôi khác, trong đó khoảng 40% được dành cho việc vắt sữa. Để giải quyết vấn đề này, sau 20 năm nỗ lực, chúng tôi đã nội địa hóa các công nghệ yếu tố cốt lõi và thương mại hóa máy vắt sữa robot đầu tiên tại châu Á. Trong nửa đầu năm nay, xuất khẩu bổ sung vẫn tiếp tục, đến nay đã xuất khẩu tổng cộng 15 máy (lắp đặt tại 16 địa điểm trong nước), và gần đây đã nhận được yêu cầu báo giá mua thêm từ nhà nhập khẩu hiện có ở Đài Loan.
Thế mạnh của công nghệ chúng ta có ba điểm. Thứ nhất là năng lực cạnh tranh về giá khi có thể cung cấp với mức chưa đến một nửa hàng ngoại vốn thường lên tới 400 triệu won, tức 180 triệu won mỗi máy. Thứ hai là hiệu năng đã được kiểm chứng như độ chính xác phát hiện núm vú trên 99% và thời gian gắn cốc vắt sữa rút ngắn 38,9% so với mẫu ban đầu. Cuối cùng, chúng tôi đã 확보 hơn 200.000 dữ liệu vắt sữa ở cấp quốc gia, qua đó tạo nền tảng để thoát khỏi cấu trúc phụ thuộc dữ liệu vào thiết bị ngoại nhập. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ tiến tới mô hình ‘gói K-dairy’ cung cấp đồng thời thiết bị, công nghệ quản lý nuôi dưỡng, phân tích dữ liệu và dịch vụ hậu mãi. Đối tượng đầu tiên được chú ý là Trung Á (Kazakhstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan), và trong nửa cuối năm nay chúng tôi sẽ tham gia Hội nghị Chăn nuôi Trung Á và Triển lãm EuroTier Hannover tại Đức để củng cố nền tảng xuất khẩu.”
Để giảm thiệt hại do bệnh truyền nhiễm ở vật nuôi, việc phát hiện sớm và quản lý phòng ngừa là rất quan trọng. Định hướng nghiên cứu và hỗ trợ thực địa của viện về phát hiện, phòng ngừa và quản lý bệnh vật nuôi là gì?
“Cốt lõi của ứng phó với bệnh vật nuôi là phát hiện sớm, phòng ngừa và thực hiện nghiêm ngặt an toàn sinh học ngăn chặn trong trang trại. Đặc biệt, chúng tôi đang tiến hành nghiên cứu liên quan để có thể xác định cá thể bất thường bằng hình ảnh và âm thanh nhằm giảm tối đa tiếp xúc với con người. Hiện đang phát triển công nghệ phát hiện thay đổi chuyển động qua hình ảnh và đánh giá bất thường của cá thể qua âm thanh.
Ngoài ra, đối với các bệnh mãn tính gây hao mòn ở bò và lợn, chúng tôi đang thúc đẩy nghiên cứu phát triển phương pháp chẩn đoán sớm, đồng thời phát hiện các gen liên quan đến nhiễm bệnh và phản ứng miễn dịch để sàng lọc sớm nguy cơ bệnh. Với bệnh da do nấm, chúng tôi đã xác nhận hiệu quả của các chất ứng viên điều trị mới và chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp.
Công nghệ nhanh chóng tìm ra mầm bệnh trong môi trường chuồng trại đang được thúc đẩy dưới hình thức nghiên cứu chung quốc tế với các trường đại học Mỹ, đồng thời cũng đang tiến hành nghiên cứu sử dụng chất truy vết huỳnh quang trong quá trình khử trùng để tìm và khắc phục các điểm khử trùng chưa đầy đủ. Bên cạnh đó, chúng tôi đã phân tích phản ứng bất thường và thay đổi sinh thể sau tiêm vaccine bệnh da nổi cục và vaccine lở mồm long móng kiểu gen mới, qua đó cung cấp dữ liệu cần thiết cho chính sách phòng dịch quốc gia.”
Ảnh hưởng của khí hậu bất thường như nắng nóng cực đoan đến sức khỏe và năng suất vật nuôi đang ngày càng lớn. Xin ông cho biết những thành quả nghiên cứu chính đang được thúc đẩy để ứng phó với biến đổi khí hậu và định hướng hỗ trợ nông hộ.
“Viện Khoa học Chăn nuôi đang nỗ lực cho một ứng phó tổng hợp gồm dự báo nguy cơ nắng nóng, phát triển công nghệ quản lý nuôi dưỡng và môi trường chăn nuôi theo từng loài, cùng hỗ trợ kỹ thuật tại hiện trường. Trước hết, thông qua ‘Hệ thống thông tin khí tượng chăn nuôi’, chúng tôi cung cấp chỉ số stress nhiệt của vật nuôi dựa trên vị trí trang trại (chỉ số thể hiện bằng số mức độ nóng mà vật nuôi cảm nhận dựa trên nhiệt độ và độ ẩm tương đối) theo 5 cấp độ, đồng thời gửi thông tin rủi ro qua tin nhắn thông báo. Theo từng loài, với bò Hanwoo vỗ béo, việc bổ sung phụ gia thức ăn tăng cường vitamin và kẽm giúp giảm stress nhiệt độ cao; với khu chờ vắt sữa của bò sữa, việc lắp đặt thiết bị làm mát đã được xác nhận có hiệu quả giảm 1,3℃ nhiệt độ bên trong. Với lợn, cung cấp nước mát 15℃ cho lợn nái nuôi con giúp tăng lượng ăn vào và ngăn sụt giảm trọng lượng lợn mẹ. Với trứng, chúng tôi xác nhận rằng khi bảo quản lạnh ở 0∼10℃, độ tươi hạng A được duy trì đến 42 ngày, qua đó xây dựng tiêu chuẩn quản lý lưu thông lạnh.
Hỗ trợ thực địa cũng được tăng cường: từ tháng 5 đến tháng 8 năm 2026, chúng tôi vận hành ‘đoàn hỗ trợ kỹ thuật hiện trường’, đến các nông hộ dễ bị tổn thương trong 42 thành phố và quận huyện đã được chọn trước để hướng dẫn kiểm tra cơ sở vật chất và quản lý nuôi dưỡng, đồng thời cũng quan tâm đến an toàn lao động của nông dân như hướng dẫn 5 nguyên tắc cơ bản an toàn trong nắng nóng cực đoan.”
Các nông hộ hạt nhân TMR (thức ăn phối trộn xơ tự phối) đang tiếp tục được tăng lên. Hiện có bao nhiêu nông hộ và dự kiến sẽ mở rộng đến bao nhiêu trong thời gian tới?
“Thức ăn phối trộn xơ tự phối có hiệu quả cắt giảm chi phí thức ăn rất tốt, nhưng việc đưa vào nông hộ gặp khó khăn do cần đầu tư ban đầu cho máy phối trộn, cơ sở lưu trữ và phải học kỹ thuật sản xuất. Vì vậy, cùng với Hiệp hội Hanwoo Toàn quốc và Ủy ban Quản lý Quỹ Hanwoo, chúng tôi đang liên tục thúc đẩy đào tạo kỹ thuật và tư vấn hiện trường; hiện đang vận hành 13 trang trại hạt nhân TMR trên toàn quốc do những người chuyển giao kỹ thuật điều hành, và có kế hoạch tăng lên 18 cơ sở vào năm 2027.”
Theo ông, điều cần thiết nhất để ngành chăn nuôi nước ta phát triển thành một ngành bền vững trong tương lai là gì? Đồng thời, xin ông gửi đôi lời tới các đồng nghiệp đang cùng làm việc, các hộ chăn nuôi và người dân.
“Để ngành chăn nuôi phát triển thành một ngành bền vững, cần đồng thời bảo đảm sự ổn định trong quản lý của nông hộ, trách nhiệm môi trường và niềm tin của người dân. Cần phát triển cân bằng ba giá trị này trên nền tảng các công nghệ thực hành tại hiện trường. Để làm được điều đó, quản lý nuôi dưỡng chính xác, chăn nuôi thông minh, công nghệ carbon thấp và công nghệ tuần hoàn tài nguyên từ phân gia súc phải được định hình ổn định tại hiện trường. Chúng ta phải xây dựng một ngành chăn nuôi sản xuất ra sản phẩm chăn nuôi an toàn, chất lượng tốt để người tiêu dùng có thể tin tưởng và lựa chọn.
Tôi xin cảm ơn các hộ chăn nuôi đã gìn giữ ngành chăn nuôi trong điều kiện khó khăn, và mong mọi người tận dụng công nghệ đang thay đổi như một cơ hội để tăng cường năng lực cạnh tranh của trang trại. Viện Khoa học Chăn nuôi cũng sẽ là người bạn đồng hành công nghệ vững chắc cho đến khi điều đó thực sự dẫn tới giảm chi phí sản xuất và nâng cao thu nhập. Tôi cũng mong người dân ghi nhớ rằng ngành chăn nuôi là nền tảng cốt lõi nâng đỡ an ninh lương thực, và nếu nhận được sự ủng hộ ấm áp của mọi người, chúng tôi sẽ đáp lại bằng nguồn thực phẩm an toàn và thân thiện môi trường.
Cuối cùng, tôi cảm thấy ý nghĩa khi được làm việc cùng các đồng nghiệp có sự thấu hiểu và chuyên môn về ngành chăn nuôi. Trong khi thực hiện các nhiệm vụ quốc gia, tôi sẽ dẫn dắt tổ chức trở thành nơi họ có thể phát huy chuyên môn và năng lực của mình.”
Bài viết này đã được dịch tự động bằng AI (Trí tuệ nhân tạo).