Giữa thị trường lê 85% là giống “Niitaka”, Cục Phát triển Nông thôn tung nước cờ xanh… lê xanh chín sớm “Seolwon”

90% người trả lời trong đánh giá tính thị trường: “Có giá trị hàng hóa khác biệt so với Niitaka”… độ ngọt và độ giòn đều 100% từ “tốt” trở lên Giao dịch ở mức 10.000~15.000 won/kg, cao nhất gấp đôi Niitaka… thách thức là màu vỏ, sản lượng và ổn định nguồn cung

이현우 Phóng viên
Duyệt 2026.08.19 18:16Cập nhật 2026.08.24 16:15
Giống lê xanh do Cơ quan Phát triển Nông thôn giới thiệu, “Seolwon” (Ảnh do Cơ quan Phát triển Nông thôn cung cấp)
Giống lê xanh “Seolwon” do Cục Phát triển Nông thôn giới thiệu (Ảnh cung cấp: Cục Phát triển Nông thôn)

Khoảng 85% diện tích trồng lê của Hàn Quốc do một giống chiếm lĩnh. Đó là “Niitaka”, được lai tạo tại Nhật Bản năm 1927 và du nhập vào Hàn Quốc trong thời kỳ Nhật Bản đô hộ. Trên thực tế, theo số tháng 12 về quan trắc nông nghiệp (trái cây) của Viện Kinh tế Nông thôn Hàn Quốc, tỷ trọng diện tích trồng lê theo giống năm 2025 cho thấy Niitaka chiếm 85,4%. Thị phần các giống do Hàn Quốc lai tạo như Wonhwang (5,0%) và Shinhwa (4,6%) chỉ quanh mức 5%. Ngay cả cộng tất cả các giống còn lại cũng chỉ khoảng 5%. Niitaka có ưu thế về bảo quản và phân phối, đã nâng đỡ ngành lê hơn nửa thế kỷ, nhưng trong thời gian đó thị trường đã cố định quanh lê quả lớn dùng làm quà biếu dịp lễ. Khi xu hướng tiêu dùng chuyển sang các loại trái cây thích hợp ăn hằng ngày, lê lại bị “nhốt” trong mâm cúng và hộp quà.

Giống lê xanh “Seolwon” do Trung tâm Nghiên cứu Lê thuộc Viện Khoa học Làm vườn và Cây trồng Đặc sản Quốc gia của Cục Phát triển Nông thôn đưa ra đang được chú ý liệu có thể làm lung lay cấu trúc này hay không. Đúng như tên gọi mang nghĩa phần thịt quả trắng như tuyết, vỏ có màu vàng xanh, còn bên trong gần như trắng. Điểm xuất phát của giống này là người tiêu dùng có thể nhận ra trên quầy trưng bày rằng đây là “một loại lê khác với lê hiện có”.

Seolwon độ ngọt cao trên 14 độ Brix… độ cứng cao là lợi thế trong phân phối
“Seolwon” được nộp đơn đăng ký giống vào năm 2011 và hoàn tất đăng ký vào năm 2013 (số đăng ký quyền bảo hộ giống: 4457). Đây là giống chín sớm, thu hoạch vào cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 theo điều kiện Naju, tỉnh Nam Jeolla; theo Cục Phát triển Nông thôn, khối lượng quả trung bình của Seolwon khoảng 600g, độ ngọt tiêu chuẩn trên 14 độ Brix. Nhà nghiên cứu Jeong Hae-won, phụ trách lai tạo lê, giới thiệu: “Chỉ cần Niitaka đạt 12 độ Brix là người tiêu dùng đã cảm thấy rất ngọt. Seolwon về bản chất giống đã cơ bản đạt 13~14 độ Brix”.

Nhưng vị ngọt không phải là tất cả. Độ cứng trung bình của Seolwon là 43,2N, cao khoảng 1,5 lần so với Niitaka, nên độ giòn giữ được lâu và chịu va đập tốt, thuận lợi cho phân phối số lượng lớn. Hàm lượng enzyme gây hóa nâu thấp nên ngay cả khi gọt sẵn, màu cũng ít thay đổi. Nhà nghiên cứu Jeong giải thích: “Niitaka chỉ sau một hai ngày là chuyển sang màu nâu, còn Seolwon để cả tuần cũng không có biến đổi lớn”. Có thể bảo quản 30 ngày ở nhiệt độ phòng và trên 3 tháng trong kho lạnh.

90% nhà phân phối bán buôn đánh giá từ “tốt” trở lên trong đánh giá tính thị trường
Đánh giá của thị trường đã một lần được đưa lên bàn kiểm chứng. Trong cuộc đánh giá tính thị trường do Cục Phát triển Nông thôn thực hiện ngày 8 tháng 9 năm ngoái với 21 nhà phân phối bán buôn tại phòng họp của Seoul Chungang Cheonggwa, Seolwon nhận được đánh giá tổng hợp “rất tốt” 20% và “tốt” 70%, tức 90% người trả lời chấm từ mức tốt trở lên. Đặc biệt, độ ngọt (rất tốt 60%·tốt 40%) và độ giòn (rất tốt 40%·tốt 60%) đều được 100% đánh giá từ tốt trở lên; trước câu hỏi liệu có giá trị hàng hóa khác biệt so với Niitaka hay không, 90% cũng trả lời tích cực. Về ưu điểm lớn nhất, độ ngọt cao (37%) và độ giòn (26%) chiếm gần hai phần ba.

Những người tham gia thảo luận hôm đó đánh giá: “Giống này có đủ sức cạnh tranh để ăn tươi, và do không bị hóa nâu nên phù hợp làm trái cây cắt miếng hoặc món tráng miệng tại nhà hàng”. Các trung tâm thương mại tìm kiếm sản phẩm khác biệt và tầng lớp trẻ được chỉ ra là nhóm mục tiêu chính. Giá của Seolwon và Niitaka đã có khoảng cách. Theo nhà nghiên cứu Jeong, Seolwon được giao dịch ở mức 10.000~15.000 won/kg, trong khi Niitaka ở mức 6.000~7.000 won.

Những người tham dự đang đánh giá Seolwon tại buổi đánh giá khả năng thị trường dành cho các nhà phân phối bán lẻ giống mới và sản phẩm mới, được tổ chức tại Cục Phát triển Nông thôn vào ngày 28 tháng 10 năm ngoái. (Ảnh: Cục Phát triển Nông thôn cung cấp)
Ngày 28 tháng 10 năm ngoái, tại cuộc đánh giá tính thị trường dành cho nhà phân phối bán lẻ đối với giống mới và sản phẩm mới tổ chức ở Cục Phát triển Nông thôn, những người tham dự đang đánh giá Seolwon. (Ảnh cung cấp: Cục Phát triển Nông thôn)

Những thách thức còn lại là màu vỏ, sản lượng và ổn định nguồn cung
Điểm yếu của Seolwon là vỏ quả. Màu vỏ là hạng mục duy nhất có tỷ lệ trả lời “tốt” là 0%. Với 70% bình thường và 30% kém, điều này cho thấy hiện tượng bần hóa trên vỏ xanh vẫn còn xa lạ trong các tiêu chuẩn quen thuộc của thị trường bán buôn. Tuy nhiên, các thương nhân trung gian cho rằng “vị và độ cứng đều xuất sắc nên bần hóa sẽ không phải vấn đề lớn”, không xem đây là trở ngại trong giao dịch; cũng có lời khuyên rằng “nếu biến nó thành điểm bán hàng, ngược lại có thể trở thành năng lực cạnh tranh”.

Sản lượng và sự ổn định nguồn cung là then chốt. Sản lượng trên 10a của Seolwon bằng khoảng 80% so với Niitaka, giống có năng suất cao. Liệu đơn giá cao có thể bù phần sụt giảm sản lượng hay không sẽ trở thành tiêu chí phán đoán thực tế của nông hộ. Nếu tính sản lượng trên 10a của Niitaka khoảng 2.100kg (sản lượng lê năm 2025·Cục Thống kê), thì Seolwon ở mức 1.680kg, tức 80% con số đó. Doanh thu gộp của Niitaka với giá 6.500 won/kg là 13,65 triệu won. Doanh thu gộp của Seolwon tùy theo đơn giá 10.000~15.000 won đạt 16,8 triệu~25,2 triệu won, nhiều hơn Niitaka 23~85%. Nếu tính theo giá trị trung vị 12.500 won thì cao hơn khoảng 54%. Tuy nhiên, đây là 기준 doanh thu gộp nên chưa phản ánh chi phí thay cây giống và thời gian đến khi cây trưởng thành.

Về năng lực cạnh tranh trong mùa cao điểm Tết Trung thu, cũng có ý kiến chỉ ra rằng “Niitaka đã bảo đảm được tính ổn định trong xuất hàng và sự đồng nhất về chất lượng, vì vậy việc Seolwon xây dựng một hệ thống cung ứng ổn định là vô cùng quan trọng”. Các MD (nhà hoạch định sản phẩm) tham gia đánh giá tính thị trường của nhà phân phối bán lẻ ngày 28 tháng 10 năm ngoái đề xuất: “Khách hàng đã ăn thử một lần chắc sẽ có ý định mua lại, nhưng giá cao là rào cản”, đồng thời nên định vị sản phẩm như món tráng miệng hơn là dùng cho lễ cúng.

Viện Khoa học Làm vườn và Cây trồng Đặc sản Quốc gia thuộc Cục Phát triển Nông thôn đã ký biên bản ghi nhớ vào ngày 13 tháng 8 tại Tòa thị chính Naju (thành phố Naju, Đặc khu tích hợp Jeonnam-Gwangju) với thành phố Naju và Hợp tác xã Làm vườn Lê Naju nhằm xây dựng khu sản xuất chuyên canh lê 'Seolwon'. (Ảnh do Cục Phát triển Nông thôn cung cấp)
Ngày 13 tháng 8, Viện Khoa học Làm vườn và Cây trồng Đặc sản Quốc gia thuộc Cục Phát triển Nông thôn đã ký biên bản ghi nhớ với thành phố Naju và Hợp tác xã Nông nghiệp Làm vườn Lê Naju tại Tòa thị chính Naju (thành phố Naju, Thành phố đặc biệt tích hợp Jeonnam-Gwangju) để xây dựng vùng sản xuất lê “Seolwon” chuyên canh. (Ảnh cung cấp: Cục Phát triển Nông thôn)

Ra hoa muộn, thu hoạch sớm
Lợi thế thực tế nhất của Seolwon tại hiện trường sản xuất là thời vụ. Về thời điểm ra hoa, Seolwon muộn hơn Naju khoảng 5~7 ngày, có thể tránh lệch pha giai đoạn nhiệt độ thấp mùa xuân. Trước đây, hiện tượng nhiệt độ thấp xuất hiện đến đầu tháng 3. Nhưng gần đây, không chỉ xuất hiện cả vào cuối tháng 3~đầu tháng 4 khi hoa lê nở, mà do ấm lên khiến thời điểm ra hoa sớm hơn, thiệt hại tăng mạnh, nên ý nghĩa của lợi thế này không hề nhỏ.

Ngược lại, thu hoạch lại sớm. Năm ngoái ở Naju, quả được hái vào ngày 27 tháng 8; năm nay dự kiến cũng sẽ rơi vào khoảng từ tuần thứ tư của tháng 8 đến tuần đầu tiên của tháng 9. Nhà nghiên cứu Jeong nói: “So với Niitaka không xử lý gibberellin, loại chất được dùng để đẩy sớm thời điểm thu hoạch do ảnh hưởng của Tết Trung thu đến sớm, vốn phải đến tuần thứ ba tháng 9 mới thu hoạch, thời điểm thu hoạch của Seolwon sớm hơn khoảng 3 tuần”. Trong những năm Tết Trung thu đến sớm, không cần phải miễn cưỡng xuất bán lê chưa chín.

Diện tích trồng 10ha… nhắm tới 40ha vào năm 2030, cả xuất khẩu
Hiện diện tích trồng Seolwon chỉ hơn 10ha, tương đương khoảng 0,1% trong tổng diện tích trồng lê toàn quốc 9.316ha (Cục Phát triển Nông thôn). Cục Phát triển Nông thôn nhận định việc phổ biến theo từng nông hộ riêng lẻ có giới hạn trong bảo đảm sản lượng và nâng cao nhận biết, nên đã bắt tay xây dựng vùng sản xuất chuyên canh với sự tham gia của chính quyền địa phương và tổ chức phân phối chuyên nghiệp. Cơ quan này đã ký thỏa thuận với thành phố Ulsan năm ngoái và với thành phố Naju ngày 13 tháng 8 năm nay; mục tiêu là phổ biến 10ha tại Ulsan vào năm 2029 và 30ha tại Naju vào năm 2030.

Xuất khẩu cũng nằm trong tầm ngắm. Đó là vì độ cứng cao, thuận lợi cho phân phối đường dài. Thành phố Naju đã bổ sung Seolwon vào danh mục sản phẩm của chế độ chứng nhận thị trường, trong đó kiểm tra từ giai đoạn canh tác việc có xử lý gibberellin hay không và quy cách chất lượng; Hợp tác xã Nông nghiệp Làm vườn Lê Naju quyết định phân bổ một phần sản lượng Seolwon cho xuất khẩu. Nhà nghiên cứu Jeong nói: “Nếu nhờ việc xây dựng vùng sản xuất mà một lượng hàng nhất định bắt đầu xuất hiện, người tiêu dùng sẽ có thể nếm thử; nếu phản ứng ở đó tốt, chúng ta có thể bước sang giai đoạn tiếp theo”.

Bài viết này đã được dịch tự động bằng AI (Trí tuệ nhân tạo).

이현우 Phóng viên
Xem bài khác của phóng viênBài khác của phóng viên

Bài liên quan

25 năm cho một giống… đưa lê xanh ‘Seolwon’ ra với thế giới25 năm cho một giống… đưa lê xanh ‘Seolwon’ ra với thế giới2026.08.20