[Phỏng vấn đặc biệt nhân dịp ra mắt] Hỏi về tương lai nông nghiệp với Viện trưởng Kim Dae-hyeon của Viện Khoa học Cây trồng Làm vườn và Cây đặc sản Quốc gia
“Đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm vào tận phòng khách nhà nông… nâng cao mức độ thâm nhập của lĩnh vực làm vườn và cây đặc sản bằng dữ liệu·AI” Giá trị sản xuất lĩnh vực làm vườn·cây đặc sản vượt 26 nghìn tỷ won… vượt khỏi tự cung tự cấp để trở thành ngành công nghiệp giá trị gia tăng cao về ‘well-being·chữa lành’ Vượt qua giới hạn lao động nông thôn bằng các công nghệ thân thiện với hiện trường như ‘vườn táo kiểu tương lai·cây trồng cạn không phủ màng’ Nền tảng ‘Nhà kính Ara’ ở mức 14 triệu won giúp xóa rào cản cho nông hộ nhỏ và vừa… thúc đẩy chuyển đổi số cả trong quản lý sau thu hoạch
Ngành làm vườn·cây đặc sản của Hàn Quốc đang bước vào một thời kỳ chuyển đổi lớn. Sự sa sút năng suất do biến đổi khí hậu, tình trạng thiếu hụt lao động nghiêm trọng do nông thôn già hóa, cùng chi phí nhân công và vật tư tăng cao là những yếu tố cốt lõi đe dọa sự sống còn của các nông hộ tại hiện trường. Trong bối cảnh khủng hoảng đó, Viện Khoa học Cây trồng Làm vườn và Cây đặc sản Quốc gia, nơi kế thừa “tinh thần của bác sĩ Woo Jang-chun” và đã đặt nền móng cho nghiên cứu làm vườn của Hàn Quốc, đang mở ra lối thoát bằng cách đi đầu với nông nghiệp thông minh tiên tiến dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI), robot và dữ liệu. Nhân dịp ra mắt, báo chúng tôi đã gặp Viện trưởng Kim Dae-hyeon của Viện Khoa học Cây trồng Làm vườn và Cây đặc sản Quốc gia, người phụ trách tổng thể hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D) trong lĩnh vực làm vườn·cây đặc sản của Hàn Quốc. Cùng với Viện trưởng Kim Dae-hyeon, chúng tôi đã trao đổi về lộ trình tương lai của nông nghiệp Hàn Quốc đang đối mặt với thời tiết cực đoan và thiếu lao động, cũng như các giải pháp agtech lấy hiện trường làm trung tâm.
Đối thoại: Lee Hyun-woo, Tổng biên tập
Thời gian: ngày 15 tháng 6 năm 2026
Địa điểm: Viện Khoa học Cây trồng Làm vườn và Cây đặc sản Quốc gia
-Năm nay, Viện Khoa học Cây trồng Làm vườn và Cây đặc sản Quốc gia, đơn vị kế thừa tinh thần của bác sĩ Woo Jang-chun và đặt nền móng cho các lĩnh vực như làm vườn của Hàn Quốc, kỷ niệm 73 năm thành lập. Xin ông chia sẻ cảm nghĩ.
“Trong 73 năm qua, chúng tôi đã liên tục đóng góp cho sự phát triển của nông nghiệp và công nghiệp nước nhà thông qua phát triển giống, đổi mới kỹ thuật canh tác và giải quyết các vấn đề tại hiện trường. Ở đó có tinh thần và sự cống hiến của bác sĩ Woo Jang-chun, điểm khởi đầu của viện chúng tôi và cũng là viện trưởng đầu tiên. Vào những năm 1950, ông đã thức tỉnh nhận thức về tầm quan trọng của nghiên cứu hạt giống và làm vườn, đồng thời đặt nền tảng nghiên cứu cho những lĩnh vực thiết yếu đối với đời sống ăn uống của người dân và thực tiễn nông nghiệp như cải thảo, củ cải, hoa và quýt. Với tư cách là viện trưởng của một cơ quan kế thừa lịch sử và truyền thống ấy, tôi vừa cảm thấy rất tự hào, vừa thấy trách nhiệm nặng nề.
Trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của Hàn Quốc, lĩnh vực làm vườn·cây đặc sản hiện chiếm khoảng 26 nghìn tỷ won, cho thấy vị thế ngày càng lớn. So với dữ liệu của 5 năm hay 10 năm trước, lĩnh vực này vẫn đang tăng trưởng không ngừng. Nếu trước đây mục tiêu là tự cung tự cấp, thì nay không chỉ cây ăn quả·hoa mà cả nông nghiệp trị liệu, thực phẩm chức năng sức khỏe sử dụng nhân sâm và cây đặc sản cũng đã bước vào với từ khóa cốt lõi là ‘well-being và sức khỏe’. Khi cả nông dân lẫn người tiêu dùng đều chú ý đến giá trị sức khỏe, tôi tin chắc ngành này sẽ còn tăng trưởng bùng nổ hơn nữa trong tương lai. Chúng tôi sẽ chủ động hơn trong việc ứng phó với môi trường mới như biến đổi khí hậu, chuyển đổi số và thay đổi tiêu dùng. Trên nền tảng do các nhà nghiên cứu tiền bối gây dựng, chúng tôi sẽ tăng cường nghiên cứu hướng tới tương lai và tạo ra những thành quả thực sự hữu ích cho hiện trường nông nghiệp và ngành công nghiệp.”
-Nhiệm vụ cốt lõi mà ông muốn tập trung nhất trong nhiệm kỳ là gì?
“Trong hơn 70 năm qua, Viện Làm vườn đã dẫn dắt hiện đại hóa nông nghiệp bằng việc phát triển vô số công nghệ làm vườn·cây đặc sản. Tuy nhiên, nếu những thành quả R&D xuất sắc không được hấp thụ tại hiện trường và không kết nối với người tiêu dùng, thì đó không phải là công nghệ sống. Vì vậy, trong nhiệm kỳ của mình, tôi dự định dốc toàn lực để thu hẹp khoảng cách tốc độ giữa phòng thí nghiệm và hiện trường nông hộ, đồng thời nâng cao ‘mức độ thâm nhập tại hiện trường’ và ‘tạo ra thành quả thực chất’ của công nghệ. Bên cạnh đó là ứng phó tương lai trước thời tiết cực đoan, ấm lên toàn cầu... Tôi sẽ thúc đẩy với trọng tâm là làm sao để các công nghệ mà hiện trường có thể cảm nhận được như smart farm, physical AI, phát triển và phổ biến giống chống chịu thiên tai... được phổ biến một cách thực chất.”
-Năm nay, Cục Phát triển Nông thôn đã đưa kế hoạch thúc đẩy công việc với khẩu hiệu ‘Nông nghiệp phát triển lớn hơn nhờ hội tụ AI, nông thôn hạnh phúc cùng nhau’ lên hàng đầu. Những chính sách cốt lõi và dự án trọng điểm liên quan đến nông nghiệp thông minh AI tối tân mà Viện Làm vườn đang tập trung thúc đẩy là gì?
“Cốt lõi là sử dụng AI, dữ liệu và công nghệ tự động hóa để biến đổi toàn bộ chu kỳ của lĩnh vực làm vườn và cây đặc sản, từ sản xuất đến quản lý sau thu hoạch, phòng trừ sâu bệnh và phát triển giống, theo hướng chính xác và hiệu quả hơn. Trước hết, chúng tôi đang tập trung nâng cấp nông nghiệp thông minh bao trùm cả đồng ruộng ngoài trời và cơ sở nhà kính. Chúng tôi đang xây dựng hệ thống quản lý thông minh cho các loại cây ăn quả chủ lực như táo, lê, quýt, nho và các cây trồng cạn như cải thảo, tỏi, hành tây. Các ví dụ tiêu biểu gồm công nghệ sản xuất cơ giới hóa tự động cho vườn táo, công nghệ chẩn đoán hình ảnh và giám sát AI, mô hình dự báo thiệt hại do lạnh, công nghệ quan trắc·dự báo tình hình sinh trưởng cải thảo mùa hè.
Ngoài ra, chúng tôi đang mở rộng công nghệ canh tác chính xác dựa trên dữ liệu trong lĩnh vực làm vườn nhà kính và cây trồng đặc dụng. Chúng tôi phát triển thông tin thuộc tính điều khiển môi trường tiêu chuẩn cho cây trồng nhà kính, đồng thời thúc đẩy nâng cấp và phổ biến hệ thống quản lý dinh dưỡng·nước chính xác cùng nền tảng nhà kính thế hệ tiếp theo là Nhà kính Ara. Trong lĩnh vực cây trồng đặc dụng, chúng tôi cũng đang phát triển công nghệ quản lý thông minh dựa trên AI như dự báo sinh trưởng nấm sò và mô hình hóa tăng trưởng nhân sâm.
Việc số hóa quản lý sau thu hoạch và lưu thông cũng đang được tiến hành. Chúng tôi đang triển khai xây dựng mô hình trình diễn APC thông minh, phát triển công nghệ quản lý chất lượng liên kết với dữ liệu môi trường sản xuất, nghiên cứu công nghệ truy xuất chất lượng và lưu thông thông minh cho nhóm cây có múi. Thứ tư là phát triển công nghệ dự báo sâu bệnh và phòng trừ chính xác dựa trên AI. Với các mặt hàng chủ lực như ớt, đào, nhân sâm, nấm sò, chúng tôi tập trung nâng cấp công nghệ chẩn đoán sớm sâu bệnh, dự báo phát sinh và phòng trừ tùy chỉnh bằng phân tích hình ảnh và deep learning để giảm thiệt hại cho nông hộ.
Cuối cùng, trong lĩnh vực phát triển giống, chúng tôi đang chính thức thúc đẩy chuyển đổi sang chọn giống số. Chúng tôi nỗ lực rút ngắn thời gian phát triển giống mới thông qua phân tích kiểu hình dựa trên hình ảnh và phân tích tích hợp dữ liệu hệ gen và omics. Đồng thời, trong lĩnh vực nông nghiệp trị liệu, chúng tôi đang thúc đẩy nghiên cứu hội tụ như phân tích cảm xúc dựa trên AI, phân tích phản ứng kích hoạt nhận thức và xây dựng nền tảng tương tác với cây cảnh đồng hành.”
-Dự án được chú ý nhất trong lĩnh vực cây ăn quả chính là ‘xây dựng hệ thống canh tác táo kiểu tương lai’. Bối cảnh thúc đẩy dự án này là gì và mục tiêu canh tác cuối cùng hướng tới là gì?
“Canh tác táo ở Hàn Quốc từ lâu đã phát triển xoay quanh kiểu tán ‘trục thon dài’. Tuy nhiên, do cấu trúc tán cây có dạng không gian ba chiều nên việc cơ giới hóa và tự động hóa các công việc chính như cắt tỉa, tỉa quả và thu hoạch có giới hạn. Điều này trở thành rào cản trong việc giảm chi phí sản xuất trong bối cảnh nông thôn già hóa và thiếu lao động ngày càng nghiêm trọng, đồng thời việc sản xuất ổn định cũng trở nên khó khăn do thiên tai thời tiết thường xuyên như nắng nóng bất thường.
Vì vậy, chúng tôi muốn chuyển đổi hệ thống canh tác dựa trên ‘kiểu tán phẳng’, trong đó cây được bố trí theo dạng mặt phẳng, đồng thời phát triển các công nghệ cơ giới hóa phù hợp như cắt tỉa·phòng trừ·thu hoạch. Mục tiêu của hệ thống canh tác táo kiểu tương lai là sản xuất sản lượng ổn định và quả chất lượng cao với ít lao động và chi phí hơn trên cùng một diện tích. Chúng tôi sẽ đề xuất một mô hình tiêu chuẩn mới cho ngành táo bền vững bằng cách cắt giảm lao động một cách đột phá, đồng thời nâng cao cả năng suất và chất lượng quả.”
-So với hệ thống canh tác táo truyền thống hiện có, phương thức hệ thống canh tác táo kiểu tương lai khác biệt về mặt cấu trúc như thế nào? Đặc biệt, tôi muốn biết những thay đổi về năng suất như rút ngắn thời gian lao động và giảm chi phí quản lý.
”Hệ thống canh tác táo kiểu tương lai là một hệ thống sản xuất được thiết kế với tiền đề cơ giới hóa·tự động hóa·thông minh hóa. Vườn cây hiện có dựa trên kiểu tán trục thon dài, cây lớn và độ cao thao tác cao nên phần lớn công việc phải phụ thuộc vào nhân lực. Ngược lại, hệ thống tương lai dựa trên kiểu tán phẳng, hạ thấp kích thước cây và đơn giản hóa cấu trúc vườn để có thể sử dụng hiệu quả máy móc và thiết bị thông minh.
Thay đổi mà nông hộ có thể cảm nhận rõ nhất là tiết giảm lao động. Vườn cây kiểu phẳng có tuyến thao tác đơn giản và độ cao làm việc thấp nên hiệu quả của các công việc chính như cắt tỉa, tỉa quả và thu hoạch cao hơn. Việc giảm đầu vào lao động dẫn đến giảm chi phí sản xuất. Trong hệ thống canh tác hiện có, chi phí nhân công chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí quản lý, nhưng hệ thống tương lai giúp giảm thời gian làm việc và mức độ phụ thuộc vào nhân lực, từ đó giảm gánh nặng chi phí quản lý. Chi phí đầu tư cơ sở ban đầu có thể hơi cao, nhưng về dài hạn hiệu quả kinh tế sẽ tăng lên. Kiểu tán phẳng giúp nâng cao hiệu quả quang hợp, cải thiện màu sắc và chất lượng quả, từ đó có lợi cho việc đảm bảo sản lượng ổn định và nâng cao lợi nhuận cho nông hộ.”
-Có nhiều ý kiến cho rằng để robot nông nghiệp được ứng dụng tại hiện trường thì việc tạo dựng môi trường số cho vườn cây ăn quả phải là điều kiện tiên quyết. Kế hoạch chuẩn bị cho ‘tiêu chuẩn hóa môi trường số của vườn cây ăn quả’ và phổ biến công nghệ thông minh đang được thực hiện như thế nào?
“Cần phải đi trước bằng công tác tiêu chuẩn hóa để liên kết thông tin không gian, hệ thống thu thập dữ liệu sinh trưởng·môi trường và nền tảng vườn cây thông minh. Trước hết, để đưa vào vận hành tự hành và robot nông tác trong vườn cây, chúng tôi đang tiến hành tiêu chuẩn hóa bản đồ điện tử 3D của vườn dựa trên LiDAR·RGB, đồng thời phát triển công nghệ lập bản đồ dựa trên digital twin.
Ngoài ra, chúng tôi đang xây dựng dữ liệu theo đơn vị cây bằng cách thu thập·liên kết theo thời gian thực cảm biến IoT, mạng quan trắc thời tiết và dữ liệu hình ảnh, rồi chuẩn hóa theo từng hạng mục để sử dụng làm dữ liệu đầu vào cho chẩn đoán sinh trưởng và ra quyết định phòng trừ dựa trên AI. Dữ liệu được xây dựng sẽ được liên kết với nền tảng vườn cây thông minh để cung cấp các giải pháp AI nông tác phù hợp riêng cho từng vườn.
Việc phổ biến công nghệ thông minh sẽ chuyển từ trọng tâm thiết bị đơn lẻ sang phổ biến dịch vụ tích hợp dựa trên dữ liệu và AI. Chúng tôi sẽ xây dựng testbed nông nghiệp thông minh cho táo·lê·nho·quýt để phát triển và kiểm chứng các công nghệ cốt lõi như giám sát môi trường canh tác, công nghệ chẩn đoán sinh trưởng sử dụng dữ liệu hình ảnh, điều khiển tưới tự động phân tích phân bố ẩm đất. Cùng với đó, chúng tôi đang hợp tác phát triển công nghệ tự động hóa nông tác như robot làm cỏ của Viện Khoa học Nông nghiệp Quốc gia và robot cắt tỉa chính xác của Đại học Quốc gia Jeonnam. Cuối cùng, chúng tôi đang nghiên cứu xây dựng nền tảng quản lý tích hợp canh tác thông minh quản lý tổng hợp toàn bộ dữ liệu này để nông dân có thể sử dụng dịch vụ ra quyết định canh tác trên một nền tảng duy nhất.”
-Cơ giới hóa các cây trồng cạn như tỏi, hành tây cũng là nhiệm vụ cấp bách. Hiện nay mức độ cơ giới hóa tỏi·hành tây của Hàn Quốc đã đạt đến đâu?
“Tính đến năm 2023, tỷ lệ cơ giới hóa tổng thể của tỏi và hành tây là 67,5%, nhưng các công đoạn gieo trồng·cấy trồng và thu hoạch, vốn cần nhiều lao động nhất, vẫn ở mức thấp. Tỷ lệ cơ giới hóa gieo trồng của tỏi là 17,6%, thu hoạch là 59,7%; còn tỷ lệ cơ giới hóa gieo trồng·cấy trồng của hành tây chỉ là 22,7%, thu hoạch là 31,4%.
Để khắc phục điều này, chúng tôi đang hợp tác với Viện Khoa học Nông nghiệp Quốc gia để thúc đẩy phát triển công nghệ cơ giới hóa toàn bộ quy trình, và gần đây đã tổ chức hội nghị chia sẻ thành quả tại Changnyeong (tỏi) và Hamyang (hành tây) để chia sẻ công nghệ. Điểm đặc biệt được chú ý là ‘công nghệ canh tác không phủ màng (không phủ nilon)’. Canh tác phủ màng nilon hiện có làm phát sinh khoảng 5 giờ lao động và 100.000 won chi phí cho mỗi 10a chỉ riêng việc tháo bỏ màng trước khi thu hoạch bằng máy, làm giảm hiệu quả cơ giới hóa. Để ngăn chặn sự suy giảm năng suất phát sinh khi canh tác không phủ màng, chúng tôi đang nâng cấp công nghệ canh tác kết hợp tối ưu hóa mật độ trồng dày hơn 5~12% so với tập quán, công nghệ giảm sức lao động trong bón phân như bón sâu và bón lên luống bằng máy bón phân gắn máy kéo, cùng thiết lập chu kỳ tưới thích hợp dựa trên cảm biến độ ẩm. Vấn đề cỏ dại phát sinh do không có màng phủ đang được xử lý bằng cách thiết lập tiêu chuẩn thử nghiệm đăng ký phương pháp xử lý thuốc trừ cỏ trong giai đoạn sinh trưởng mùa xuân, qua đó thúc đẩy mở rộng sử dụng thuốc trừ cỏ để quản lý cỏ dại mùa xuân.”
-Kế hoạch sắp tới để chuyển đổi sang nông nghiệp thông minh ngoài trời dựa trên AI·dữ liệu là gì?
“Để chuyển đổi sang nông nghiệp thông minh ngoài trời, chúng tôi dự định thu thập có hệ thống dữ liệu sinh trưởng·năng suất như chiều cao cây, số lá, khối lượng chất khô, trọng lượng củ cùng dữ liệu hình ảnh drone tại các vùng sản xuất chủ lực như Muan·Hampyeong của Jeollanam-do để 확보 cơ sở dữ liệu chuẩn. Dựa trên phân tích tương quan giữa hình ảnh drone đa phổ và dữ liệu hiện trường, chúng tôi sẽ phát triển mô hình ước tính sinh trưởng của tỏi·hành tây, và sử dụng mô hình này làm căn cứ khoa học cho việc ứng phó sớm với thời tiết cực đoan·sâu bệnh cũng như xây dựng chính sách ổn định cung cầu.”
-Trở ngại lớn nhất đối với việc phổ biến smart farm là gánh nặng vốn đầu tư ban đầu. ‘Nền tảng Nhà kính Ara’ đang được phát triển có thể thực sự giảm chi phí lắp đặt cho nông hộ đến mức nào? Tôi cũng muốn biết giải pháp phù hợp dành cho nông hộ siêu nhỏ·nhỏ và vừa.
“Trong thời gian qua, chính sách smart farm thiên về các nhà kính công nghệ cao quy mô lớn, nên ngưỡng tiếp cận đối với 74% nông hộ quy mô nhỏ và vừa dưới 0,5ha là rất cao. Thành quả tiêu biểu được phát triển để giảm chi phí chính là nền tảng Nhà kính Ara. Hệ thống này là một dạng app store cung cấp bằng công nghệ Internet vạn vật việc liên kết giữa các thiết bị như tiêu chuẩn hạ tầng điện, viễn thông, cảm biến và bộ truyền động. Khi được thương mại hóa, nó có thể giải quyết vấn đề chi phí và giúp cài đặt chương trình AI dễ dàng. Thiết bị điều khiển môi trường tổng hợp nội địa hiện có giá 25 triệu won, hàng ngoại có thể lên tới 100 triệu won, nhưng nền tảng Nhà kính Ara đã hạ chi phí một cách đột phá xuống còn 14 triệu won trong khi vẫn nâng cao khả năng bảo trì và tính tiện dụng.
Ngoài ra, chúng tôi còn thiết lập các công nghệ đầu vào theo từng loại cây trồng như cửa thông gió, quạt tuần hoàn, quạt thông gió, công nghệ che nắng, máy sưởi, rèm giữ nhiệt nhiều lớp; về phần mềm thì hỗ trợ NCPMS chẩn đoán dự báo sâu bệnh, hệ thống cảnh báo thiên tai thời tiết, ‘Isagi’... Bắt đầu từ dâu tây·cà chua trong năm nay, chúng tôi dự định kiểm chứng tại hiện trường tính kinh tế của mô hình smart farm cỡ nhỏ và vừa cho tổng cộng 10 loại cây trồng. Nếu những giải pháp tùy chỉnh này được phổ biến tại hiện trường, chúng tôi kỳ vọng sẽ đạt được hiệu quả cải thiện quản lý thực chất: chi phí quản lý của nông hộ nhỏ và vừa giảm 25%, năng suất tăng 30% và thu nhập tăng 20%.”
-Xin giới thiệu hiện trạng dự án thí điểm smart farm quýt đang được triển khai và những thành quả điều khiển số.
“Đối với quýt ngoài trời, tỷ lệ nông hộ cao tuổi từ 60 tuổi trở lên trong số các hộ trồng đã tăng vọt từ 33,4% năm 2015 lên 50,7% năm 2024, còn tỷ lệ nữ nông dân cũng đạt 44,1%, nên nhu cầu thông minh hóa là rất cấp thiết. Tuy nhiên, tuổi cây đã già trên 40 năm và tỷ lệ trồng dày cao nên có giới hạn trong sản xuất chất lượng cao và cơ giới hóa.
Khi nhậm chức Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quýt vào năm 2022, tôi đã cảm nhận sâu sắc sự cần thiết nên đã 확보 ngân sách và chuẩn bị nền tảng. Quýt ngoài trời cũng rất cần phát triển kiểu tán và phòng trừ không người lái, vì vậy chúng tôi đang san nền trên quy mô 2.310㎡ và xây dựng testbed áp dụng các kiểu tán dạng trục giữa, 2 trục và 4 trục. Chúng tôi đang thúc đẩy quan trắc thời tiết tự động, canh tác phủ đất bằng vật liệu Tyvek, tưới nhỏ giọt tự động sử dụng cảm biến độ ẩm đất, giám sát không người lái và phòng trừ không người lái. Trong tương lai, chúng tôi sẽ xây dựng hệ thống quản lý tích hợp canh tác thông minh cho quýt ngoài trời. Từ tháng 7 năm nay, chúng tôi sẽ cùng doanh nghiệp thúc đẩy nghiên cứu trình diễn tại vườn quýt về ‘hệ thống robot phòng trừ thông minh dựa trên AI’ nhằm đưa vào máy phun SS tự hành, và dự kiến tổ chức hội nghị đánh giá hiện trường testbed quýt ngoài trời vào cuối tháng 10 để công bố khả năng này ra bên ngoài.”
-Khi chuyển đổi số được áp dụng vào lĩnh vực quản lý sau thu hoạch, những đổi mới nào sẽ đến với tính thương phẩm của nông sản nước ta và việc quản lý cung cầu chính xác? Lộ trình cho việc này là gì?
“Để chuyển đổi số trong quản lý sau thu hoạch, chúng tôi đang thúc đẩy hai định hướng chiến lược. Trước hết là dự báo chất lượng chính xác dựa trên dữ liệu và quản lý cung cầu thông minh. Trong khi trước đây quản lý bảo quản·lưu thông tập trung vào việc đáp ứng các điều kiện định lượng như nhiệt độ, độ ẩm, thì trong tương lai cần dự báo biến động chất lượng dựa trên dữ liệu và điều chỉnh thời điểm, khối lượng xuất hàng. Chúng tôi đang tích lũy có hệ thống dữ liệu về chất lượng·môi trường bảo quản·biến động lưu thông của các cây trồng làm vườn chủ lực, đồng thời nâng cấp công nghệ dự báo thời điểm suy giảm chất lượng trong quá trình bảo quản, khả năng hư hỏng và thời gian có thể lưu thông bằng AI. Tại vùng sản xuất có thể xác định thời điểm xuất hàng thích hợp, còn tại hiện trường lưu thông có thể giảm tổn thất.
Và đó còn là sự chuyển đổi mô hình trong tiêu chuẩn phân hạng nông sản. Nếu trước đây trọng tâm là các chỉ số định lượng như kích cỡ, trọng lượng, độ ngọt, thì trong tương lai cần phản ánh cả các yếu tố chất lượng định tính như hương vị, cảm giác khi ăn, độ tươi và mức độ ưa thích của người tiêu dùng. Để làm được điều này, chúng tôi dự định kết hợp chẩn đoán chất lượng không phá hủy, dữ liệu hình ảnh·cảm biến và thông tin đánh giá của người tiêu dùng để xây dựng tiêu chuẩn có thể tuyển chọn và lưu thông ‘nông sản ăn vào thấy hài lòng’.”
-Xin ông gửi một lời động viên và nhắn nhủ tới độc giả của Báo Công nghệ Nông nghiệp Hàn Quốc ra mắt ngày 1/7 và những tech farmer tương lai của Hàn Quốc.
"Hiện nay, nông nghiệp đang nhanh chóng tiến hóa thành một ngành công nghiệp tương lai mới khi các công nghệ tiên tiến như AI, robot, digital twin kết hợp trên nền tảng của ngành công nghiệp truyền thống. Vào thời điểm chuyển đổi quan trọng như vậy, việc ra mắt một cơ quan báo chí chuyên ngành kết nối công nghệ nông nghiệp với hiện trường là điều vô cùng ý nghĩa. Tôi hy vọng Báo Công nghệ Nông nghiệp Hàn Quốc sẽ trở thành cây cầu quý giá kết nối nông dân, nhà nghiên cứu, giới công nghiệp và hiện trường chính sách bằng cách truyền tải rộng rãi các thành quả nghiên cứu, xu hướng ngành và những trường hợp điển hình xuất sắc tại hiện trường.
Tôi cũng gửi lời cổ vũ lớn tới quý độc giả và những tech farmer tương lai của Hàn Quốc. Nông nghiệp trong tương lai sẽ không còn là ngành chỉ dựa vào kinh nghiệm, mà sẽ trở thành ngành công nghiệp giá trị gia tăng cao đòi hỏi đồng thời dữ liệu và công nghệ, môi trường và tính bền vững, cùng năng lực giải quyết vấn đề sáng tạo. Tôi mong mọi người đừng sợ công nghệ mới mà hãy tích cực học hỏi, áp dụng phù hợp với hiện trường và nuôi lớn khả năng đổi mới ngay cả trong thất bại. Viện Khoa học Cây trồng Làm vườn và Cây đặc sản Quốc gia cũng sẽ nỗ lực hết mình trong phát triển công nghệ thực tiễn và hỗ trợ hiện trường."
Bài viết này đã được dịch tự động bằng AI (Trí tuệ nhân tạo).